37,5% giảng viên chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus

Thảo luận trong mục 'Tin giáo dục' được tạo bởi minhuyen0301, 24 Tháng năm 2019.

  1. minhuyen0301

    minhuyen0301 Member

    37,5% giảng viên chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus

    Số lượng các công bố quốc tế của các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học còn khá khiêm tốn. Trong đó có 37,5% giảng viên chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus. Số các giảng viên có công bố quốc tế ISI/Scopus trên 5 bài chỉ có 34,2%. Con số này nói lên mức độ hội nhập với trình độ quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam.

    Đó là một trong những kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu thực hiện Đề tài mã số KHGD/16-20.ĐT.032 thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Quốc gia giai đoạn 2016-2020: “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam” đã thực hiện khảo sát ở hơn 40 trường đại học trong cả nước.


    Nhóm nghiên cứu do GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội làm trưởng nhóm.


    58,8% giảng viên tham gia nhóm nghiên cứu


    Theo kết quả khảo sát của nhóm thực hiện đề tài với 216 giảng viên với


    Chính sách về nhóm nghiên cứu (NNC)


    Tại Quyết định 2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trong nước và nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước trong đó một trong những mục tiêu là hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng 50 NNC (giai đoạn 2016-2020) và 80 NNC (giai đoạn 2021-2015) nhằm hình thành các NNCM đủ sức giải quyết những vấn đề KH&CN lớn của đất nước.


    thành phần trong đó TS: 42,1%, TSKH: 2,3%, PGS: 9,7% và GS: 4,6% ở 40 trường đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn cả nước, với tỷ lệ 69% là nam, kết quả cho thấy có 58,8% (127/216) khẳng định đang tham gia các nhóm nghiên cứu (NNC).


    Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê, tính đến năm học 2016-2017 đã có 491 nhóm giảng dạy - nghiên cứu được thành lập tại các cơ sở đào tạo, trong đó cơ sở đào tạo có nhiều nhóm giảng dạy - nghiên cứu nhất là: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (127 nhóm), tiếp đến là các trường: Đại học Tây Nguyên (42 nhóm), Đại học Đà Nẵng (36 nhóm), Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên (30 nhóm), Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (24 nhóm), Đại học Quốc gia Hà Nội (29 NNC mạnh). Trên cơ sở khảo sát từ 142/271 trường đại học, hiện nay trong hệ thống các trường đại học đã hình thành 945 NNC, một trường đại học có trung bình 7 NNC.


    Các kết quả khảo sát cũng ghi nhận trong số ý kiến của 216 giảng viên, có 29,1% là các trưởng NNC, cho biết đã tham gia 64 NNC mới được thành lập trong vòng 5 năm từ 2013 trở lại đây.


    Số NNC tăng mạnh trong năm 2017 với 17/64 nhóm. Điều này có thể lý giải bởi áp lực của yêu cầu về công bố quốc tế với độ ngũ giảng viên và NCS.


    GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho hay, quy chế đào tạo tiến sỹ năm 2017 mới ban hành yêu cầu giảng viên hướng dẫn và NCS đều phải có công bố quốc tế là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy sự hình thành các NNC mới trong những năm gần đây.


    Thông qua NNC, chất lượng đào tạo tiến sỹ và chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước. Các kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu, 77,78% các giảng viên tham gia các NNC đã có các công bố trên các tạp chí ISI/Scopus trong khi con số này đối với các giảng viên không thuộc các NNC chỉ là 48,31%,


    23,02% giảng viên tham gia các NNC có các sản phẩm đạt giải thưởng KH&CN, 44,44% có sản phẩm KH&CN hoàn chỉnh, có thể chuyển giao công nghệ và thương mại hóa. Đây là tỷ lệ khá cao nếu so với các giảng viên không tham gia các NNC (13,48% và 30,34%).

    [​IMG]

    Biểu đồ so sánh một số tiêu chí giữa các giảng viên tham gia/không tham gia NNC.

    Năm 2013, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, chỉ ở mức 2309 bài. Tuy nhiên, theo thống kê mới đây nhất của nhóm NC độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu trong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đoạn 5 năm trước đó 2011-2015, khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài.


    Nếu chỉ tính riêng các công bố quốc tế thuộc Scopus, trong vòng 10 năm trở lại đây (2009-2018), số lượng các công bố quốc tế của Việt Nam đã tăng gần 5 lần, từ 1.764 bài năm 2009 đã tăng lên đến 8.234 bài năm 2018. Có thể nhận thấy, sự gia tăng của các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học tỷ lệ thuận với sự gia tăng số lượng công bố quốc tế.

    [​IMG]

    Tốc độ tăng công bố Scopus của Việt Nam giai đoạn 2009-2018. (Nguồn: Cơ sở dữ liệu Scopus, truy cập ngày 7/1/2019)


    Các thống kê từ nguồn dữ liệu của ISI và Scopus cho thấy một số trường đại học như: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Duy Tân … là những đơn vị đào tạo – nghiên cứu có số lượng công bố quốc tế và tổng số trích dẫn của các bài báo quốc tế đứng top đầu tại Việt Nam.


    Cũng theo kết quả khảo sát cho thấy, lĩnh vực nghiên cứu của các NNC cũng không đồng đều và có sự chênh lệch khá lớn tập trung nhiều nhất vào 3 lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn.

    [​IMG]

    Biểu đồ phân bố lĩnh vực nghiên cứu của các NNC.


    Các trường đại học chưa quyết liệt để đầu tư cho các NNC


    Qua khảo sát về thực trạng phát triển, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho biết, bên cạnh những mặt đạt được của nhóm NNC trong thời gian qua thì vẫn còn một số tồn tại và hạn chế:


    Thứ nhất, thiếu cán bộ khoa học đầu ngành dẫn dắt NNC. Kết quả khảo sát mới cho thấy trong số các cán bộ được hỏi mới có 75% các NNC là do các GS, PGS dẫn dắt. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đánh cho thấy 96% cho rằng vai trò dẫn dắt của người trưởng nhóm rất quan trọng, 97,6% cho rằng bên cạnh người trưởng nhóm, chất lượng các thành viên tham gia NNC cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển NNC.


    Thứ hai, số lượng các công bố quốc tế của các NNC còn khá khiêm tốn. Trong đó có 37,5% số thầy cô được hỏi chưa có công bố quốc tế ISI/Scopus. Số các giảng viên có công bố quốc tế ISI/Scopus trên 5 bài chỉ có 34,2%. Con số này nói lên mức độ hội nhập với trình độ quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam.


    Thứ ba, nguồn lực đầu tư cho các NNC còn hạn chế, có đến 93,7% số người được hỏi cho rằng kinh phí để đầu tư cho NNC có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì và phát triển NNC.


    Ví dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội sau 5 năm ban hành chính sách về NNCM từ 2013 đến nay, các đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội như Trường Đại học Công nghệ mới hỗ trợ mỗi NNCM 50 triệu/năm; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên hỗ trợ mỗi NNCM 30 triệu/năm, một số trường chưa có chính sách cụ thể...


    Ngoài ra, cơ sở vật chất, trang thiết bị đầu tư cho nghiên cứu trong các trường đại học hiện nay còn rất thiếu hoặc không đồng bộ.


    Thứ tư, về phía quản lý nhà nước và các trường đại học, còn thiếu các chính sách cụ thể và đủ mạnh để hỗ trợ và thúc đẩy sự hình thành và phát triển các NNC trong các trường đại học.


    Nguyên nhân chính của những hạn chế tồn tại nêu trên trước hết xuất phát từ chủ quan các cán bộ giảng viên còn chưa ý thức được đầy đủ việc gắn kết công tác đào tạo với nghiên cứu, và chưa ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện, nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn thông qua NNC.


    Chính sách hỗ trợ, khuyến khích của các trường đại học cho các NNC chưa có, chưa cụ thể, hoặc còn chưa đáng kể, hay nói cách khác là chính các trường đại học cũng chưa có những giải pháp quyết liệt để đầu tư cho các NNC.


    Có đến 16,7% các cán bộ giảng viên được hỏi trả lời chưa từng tham gia hội nghị quốc tế nào (được tổ chức ở trong cũng như ngoài nước).


    “Chúng ta có thể nắm bắt được những cơ hội của của cách mạng công nghiệp lần thứ 4, không chỉ cần nguồn nhân lực chất lượng cao mà cần có nhân tài. Lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thu hút được nhân tài.


    Chính vì vậy, các NNC cũng không là ngoại lệ và vấn đề thu hút nhân tài cũng là thách thức lớn đặt ra với các NNC trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” – GS Đức nhấn mạnh.


    Nhà nước cần có chính sách thúc đẩy các NNC


    Nhóm nghiên cứu (NNC) được coi là tế bào của hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo. Việc xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học có ý nghĩa quan trọng, then chốt trong việc nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ và chất lượng đào tạo của nhà trường.


    Qua khảo sát thực tiễn hoạt động của các nhóm nghiên cứu, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước và các trường đại học nhà nước cần sớm ban hành những chính sách cụ thể, đồng bộ và đủ mạnh để hỗ trợ và thúc đẩy sự hình hành phát triển các NNC trong các trường đại học hiện nay.


    Các NNC cũng có quy mô, trình độ và thành tích đào tạo, nghiên cứu khác nhau, khả năng kết nối, hợp tác trong ngoài nước rất khác nhau, do vậy khi ban hành các tiêu chí và xem xét mức đầu tư cho NNC cũng cần quy định phù hợp với từng đối tượng, cấp độ để đảm bảo đầu tư không lãng phí, tránh cào bằng và đem lại hiệu quả cao nhất.


    Hồng Hạnh

    https://dantri.com.vn/giao-duc-khuy...g-bo-quoc-te-isi-scopus-20190429101803332.htm
  2. Có thể bạn quan tâm


  3. minhuyen0301

    minhuyen0301 Member

    Khối ngành Khoa học sức khỏe năm 2019 tại ĐH Duy Tân

    Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của người dân cũng tăng lên. Nhưng sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế ảnh hưởng rất lớn tới việc khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Là một ngành đặc thù liên quan đến mạng sống của con người, do đó, không phải cơ sở giáo dục nào cũng có thể triển khai đào tạo và đạt hiệu quả cao. Tại khu vực miền Trung, sau 10 năm đào tạo khối ngành Khoa học sức khỏe, Đại học (ĐH) Duy Tân đã trở thành địa chỉ uy tín cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực lành nghề. Vậy những yếu tố nào đang hội tụ, góp phần mang đến thành công trong đào tạo khối ngành Khoa học Sức khỏe tại ĐH Duy Tân?

    Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo

    Khối ngành Khoa học sức khỏe của ĐH Duy Tân đang đào tạo các ngành gồm:

    • Bác sĩ đa khoa

    • Dược sĩ ĐH

    • Điều dưỡng đa khoa

    • Bác sĩ Răng-Hàm-Mặt / Bác sĩ Nha khoa (ngành mới mở năm 2018)

    [​IMG]

    ĐH Duy Tân ký kết hợp tác nâng cao chất lượng đào tạo và đưa giảng viên, sinh viên khối ngành Khoa học sức khỏe ra nước ngoài du học

    Có thể khẳng định, ĐH Duy Tân đã có những thành công nhất định trên “mặt trận” ngoại giao khi ở hầu hết các ngành nghề, nhà trường đều hợp tác với những ĐH quốc tế uy tín vào bậc nhất để: Chuyển giao chương trình đào tạo; Thay đổi cách dạy và cách học; Nâng cấp cơ sở thực hành…để đào tạo nên những thế hệ sinh viên giỏi giang, năng động với tư duy mới.

    Khối ngành Khoa học sức khỏe cũng nằm trong số đó khi ĐH Duy Tân liên tục liên kết với các đối tác trường Y lớn của Mỹ, tham khảo chương trình đào tạo và mời nhiều giảng viên nước ngoài về giảng dạy tại trường. Tiêu biểu trong số đó là hợp tác với:

    • ĐH Pittsburgh - xếp thứ 5 trong Top 15 trường có nghiên cứu y khoa hàng đầu của Mỹ (theo bảng xếp hạng năm 2014 của Viện Sức khỏe Mỹ - NIH),

    • ĐH Illinois ở Chicago - trường có hệ thống chương trình đào tạo Y-Dược quy mô nhất nước Mỹ (về mặt số lượng sinh viên và ngành học),

    • ĐH Y khoa Duke - NUS (Singapore), ĐH Ben Gurion (Israel),

    • ĐH Burapha, ĐH Khon Kaen và ĐH Mahidol (Thái Lan),

    • ĐH Sun-Moon và ĐH Dong-A (Hàn Quốc),

    • Tập đoàn Phúc lợi Xã hội SEIREI (Nhật Bản) và Hội đồng Quốc gia Người cao tuổi Khiếm thị Nhật Bản, Chi nhánh Kinki.

    Bên cạnh đó, việc ký kết cùng 18 bệnh viện trong nước gồm: Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnh viện Bộ Công an 199, Bệnh viện Quân y 17, Bệnh viện Trung ương Huế, Trung tâm Răng Hàm Mặt TP.Đà Nẵng… cũng đã giúp sinh viên Duy Tân có thêm nhiều cơ hội được thực hành lâm sàng dưới sự chỉ dẫn của các giáo sư, bác sĩ vững tay nghề, giàu kinh nghiệm và nhiều tâm huyết với nghề.

    Xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại

    Không chỉ chú trọng cung cấp kiến thức tiên tiến cho sinh viên, ĐH Duy Tân còn tích cực đầu tư hệ thống 18 phòng thí nghiệm với các trang thiết bị hiện đại như:

    • Phòng Thí nghiệm Lý-Hóa-Sinh,

    • Phòng Thực hành Sinh lý Bệnh-Miễn dịch,

    • Phòng Thực hành Vi sinh - Ký sinh trùng,

    • Phòng Thực hành Điều dưỡng,...

    • Đặc biệt, Trung tâm Mô phỏng Y khoa MedSim đang được xây dựng trong một toà nhà mới 5 tầng (ở khu 3.5 ha) với tổng đầu tư dự trù lên đến trên 200 tỷ, sắp được đưa vào hoạt động từ hè 2019 hứa hẹn sẽ tạo ra cơ sở thực hành y tế hiện đại hàng đầu miền Trung.

    [​IMG]

    Những trang thiết bị và mô hình giải phẫu hiện đại phục vụ đào tạo ngành Khoa học Sức khỏe tại ĐH Duy Tân

    Sau cùng, Trung tâm Mô phỏng & Mô hình hóa (Center of Visualization & Simulation - CVS) của ĐH Duy Tân đã cho “ra đời” sản phẩm "Ứng dụng công nghệ mô phỏng thực tại ảo 3D xây dựng cơ thể người phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong khối ngành khoa học sức khỏe" với 3.924 chi tiết mô phỏng các hệ cơ quan trong cơ thể người được thiết kế theo công nghệ 3D. Sản phẩm này đã được trao nhiều giải thưởng lớn, trong đó có:

    - Giải Nhất Giải thưởng Nhân tài Đất Việt năm 2017,

    - Danh hiệu Sao Khuê năm 2018, và

    - Giải Bạc tại ASEAN ICT Awards 2018.

    Ứng dụng với giao diện linh động, cho phép người sử dụng có thể quan sát chi tiết hình ảnh của các hệ xương, hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn... một cách riêng lẻ hay tích hợp đã góp phần tránh tình trạng “học chay” hiện nay ở nhiều trường.

    Áp dụng phương pháp học tập tiên tiến

    Từ lâu, sinh viên ĐH Duy Tân đã được tiếp cận phương pháp học tập PBL (Problem-Based Learning hoặc Project-Based Learning) - một phương pháp đào tạo tiên tiến được áp dụng chủ đạo trong các ngành Khoa học Sự sống và Y tế ở nhiều trường đại học hàng đầu trên thế giới. Phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận với các kiến thức, kỹ năng một cách chuyên sâu mà còn tạo cơ hội cho sinh viên có những trải nghiệm nghề nghiệp thực tế bổ ích, giúp các em có thêm sự tự tin để hoàn thành tốt công việc sau khi tốt nghiệp.

    Ngoài ra, trong đào tạo khối ngành Khoa học Sức khỏe, ĐH Duy Tân còn tham khảo một số phương pháp giảng dạy, thực hành mới của ĐH Ben Gurion (Israel) và ĐH Y khoa Duke - NUS (Singapore) như:

    • Phương pháp Mô phỏng (Simulation),

    • Thực hành Điều dưỡng dựa vào chứng cứ (Evidence-based Nursing Practice),

    • TBL (Học tập dựa vào nhóm - Team-based Learning),...

    tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với các hướng đào tạo mới nhất trên thế giới.

    Mở rộng cơ hội đi du học cho giảng viên và sinh viên

    Ngay trong quá trình đào tạo, ĐH Duy Tân đã nỗ lực làm việc với các đối tác nước ngoài để mang lại cơ hội đi du học cho giảng viên và sinh viên của trường. Nỗ lực đó đã mang đến nhiều kết quả như mong đợi cho ngành Điều dưỡng khi rất nhiều giảng viên và sinh viên của ĐH Duy Tân được đi du học cũng như nhận bằng Thạc sĩ tại: Nhật Bản, Đài Loan,Thụy Điển…

    Tiêu biểu trong số đó là giảng viên Phạm Thị Ngọc An và cựu sinh viên Nguyễn Thị Huyền Trang đã bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ tại ĐH China Medical, Đài Loan vào tháng 6.2018 sau 2 năm theo học chương trình Thạc sĩ Điều dưỡng với học bổng miễn 100% học phí.

    [​IMG]


    Các giảng viên và sinh viên ĐH Duy Tân ra nước ngoài du học và nhận bằng Thạc sĩ

    Ngay sau đó, ĐH Duy Tân đã ký kết hợp tác với Tập đoàn Phúc lợi Xã hội SEIREI (Nhật Bản) vào ngày 27.10.2018 tạo cơ hội để giảng viên Đoàn Nữ Nga My và cựu sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương nhận học bổng sang Nhật Bản du học vào những ngày giữa tháng 4/2019. Sau khi kết thúc khóa học Điều dưỡng, 2 cô trò sẽ có cơ hội làm việc cho Tập đoàn Phúc lợi Xã hội SEIREI 4,5 năm với mức thu nhập dự tính khoảng 3.200.000 yên/năm (tương đương hơn 662 triệu đồng).

    Không chỉ Khoa Điều dưỡng, các Khoa khác thuộc khối ngành Khoa học sức khỏe tại ĐH Duy Tân cũng đang trong quá trình thảo luận với nhiều đối tác nước ngoài để mang đến những cơ hội học tập và việc làm thiết thực giúp giảng viên nâng cao năng lực giảng dạy đồng thời giúp sinh viên có cơ hội được tiếp thu kiến thức tiến bộ, trau đồi kỹ năng để trở thành những y bác sĩ có tâm có tài trong tương lai.

    Mùa tuyển sinh 2019, Đại học Duy Tân có nhiều suất học bổng ưu đãi đặc biệt cho khối ngành Khoa học sức khỏe, bao gồm:

    - Học bổng Duy Tân trị giá từ 1-5 triệu đồng cho những thí sinh đăng ký vào học Khối ngành Điều dưỡng có tổng điểm xét tuyển 3 môn từ Kỳ thi THPT Quốc gia ≥ Điểm trúng tuyển từ 3 đến 10 điểm.

    - Học bổng 1 triệu đồng/suất cho tất cả các thí sinh có hộ khẩu tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa khi đăng ký học ngành Điều dưỡng Đa khoa.

    - Học bổng trị giá từ 500 ngàn đồng – 2 triệu đồng VNĐ cho những thí sinh đăng ký vào học ngành Điều dưỡng Đa khoa có tổng điểm xét tuyển Học bạ THPT từ 22 điểm trở lên.

    [​IMG]

    Các bạn có thể xem thêm thông tin về đào tạo khối ngành Khoa học Sức khỏe của ĐH Duy Tân tại đây: Khoa Y, Khoa Dược và Khoa Điều dưỡng.

    Mọi chi tiết liên hệ: Trung tâm Tuyển sinh, ĐH Duy Tân

    254 Nguyễn Văn Linh, Đà Nẵng

    Đường dây nóng: 1900.2252 - 0905.294390 - 0905.294391

    Website: https://duytan.edu.vn/tuyen-sinh

    Email: tuyensinh@duytan.edu.vn

    https://thanhnien.vn/giao-duc/khoi-nganh-khoa-hoc-suc-khoe-nam-2019-tai-dh-duy-tan-1083085.html

Chia sẻ

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.